Wednesday, November 14, 2012

Hà Nội 12 ngày đêm: Chảy hội bên chân pháo


Hà Nội 12 ngày đêm: Chảy hội bên chân pháo

Trên màn trời đen thẫm, chiếc B52 như con khủng long rền rĩ bay ngang qua Hà Nội, nén không khí xuống một áp lực đến ngột thở. Quả tên lửa vọt khỏi bệ phóng, chiếc đuôi đỏ rực xé toạc trời đêm đen xẫm. Con quái vật gãy đôi, cháy rực, nặng nề  rơi xuống đất trước tiếng reo hò của những anh lính tên lửa phòng không. Câu chuyện của một cựu chiến binh trung đoàn 274 đã mang đến cho tôi một góc nhìn mới về 12 ngày đêm khói lửa, và xa hơn, về một cuộc chiến.


Bảo tàng phòng không không quân. Buổi sáng đầu tiên của mùa đông. Những vũng nước loảng lổ chen lẫn những khoảng sân trắng, khô đến ráo hoảnh. Gió lạnh rít qua từng miếng sắt hoen ghỉ, lấm tấm mưa đêm của những chiếc máy bay đã từng gào thét trên bầu trời Hà Nội những ngày đêm năm 72. Mưa xiên từng hạt nhỏ rắt, như những mũi kim xuyên qua chiếc áo phông mỏng teo.


Ngày hội ngộ. Khoảng sân nhỏ trước cửa bảo tàng như ấm lên, rộn ràng bởi tiếng hò nồng nhiệt của những cựu binh trung đoàn 274. Hàng hàng lớp lớp huy chương vàng chói, trên nền áo xanh thẫm. Những cơ thể giờ đã già nua, còm cõi, vồ lấy nhau trong những chiếc bắt tay chắc nịch, mạnh đến rung người. Những cái ốm siết chặt. Mái đầu bạc lấm tấm sương mưa tựa trên những đôi vai gày. Thời gian dường như không cướp đi được cái  mạnh mẽ, kiên cường của những người lính trong những ngày khói lửa cách đây hơn 40 năm.


Sau những phút găp gỡ nồng ấm, cuộc họp mặt tiếp tục trong hội trường phía sau Bảo tàng. Một Bác, chắc là trưởng ban liên lạc của Trung đoàn, dáng người nhỏ nhắn, đứng ngập sau chiếc bục phát biểu. Giọng giật cục nhát một như nấc, bác cầm một mảnh giấy nhỏ, một mình nói, và một mình nghe, chìm trong hồi ức của những ngày tưởng như mới hôm qua. Phía dưới hội trường xôn xao bởi những cái đầu háo hức, đang nóng rực lên sau bao ngày không gặp. Không ai chịu ngồi yên. Những mẩu chuyện đã được kể sau bao năm gặp gỡ, vẫn rộ lên, xôn xao trong từng nhóm nhỏ.

Hàng ghế thứ 2 từ bên dưới, một Bác trong chiếc áo phông trắng bộ đội, mũ tai bèo còn mới nguyên, xanh ngắt trên đầu, đang chắm chú nghe phát biểu. Tiến đến gần Bác, lân la bắt chuyện “Bác ở Trung đoàn 274 ạ.” Như môt chiếc kim chọc thẳng vào quả bóng bay đang căng tràn nước, mắt Bác nhớn cao, cười rạng rỡ hào hứng kể cho tôi nghe về những kỉ niệm về 12 ngày đêm chiến đấu. Bác và tiểu đội hành quân từ Quảng Trị về chi viện cho Hà Nội. Ngày cũng như đêm, chiếc xe Bót gập ghềnh trên những con đường lồi lõm. Cả đội tóc ai cũng phờ phạc, xám trắng màu của bụi đường. Những khuôn mặt rạc đi vì sương gió. Kì lạ, suốt mấy ngày vần vã trên đường mà về đến Hà Nội mà chẳng ai mệt. Bác kể lúc đó, lòng như muốn rộn lên, cồn cào nghĩ về Hà Nội. Thế là xe vừa dừng, cả đội lao ngay xuống để lắp đặt trận địa. Bác kể cái vất vả nhất của lính tên lửa là vần những cuộn dây điện to như bánh xe cần cầu từ bệ phóng đến chạm điều khiển. Vật vã với những bánh dây cao ngang đầu người như thế đến gần sáng nhưng ai cũng tràn đấy khí thế. Trận địa tên lửa lúc đó là bãi đất phẳng lì, không nơi trú ẩn, thế nên vừa lắp đặt xong cả Trung đội lại hò nhau đi đào hào trú ẩn. Trời sáng hẳn, khi mọi thứ đã vào đúng vị trí, cả đội mới an tâm mò xuống hào ngủ. Đầu người này nối chân người kia. Ngổn ngang!

Thấy kể Bác sống ở Tuyên Quang, quanh năm chỉ nhìn thấy đồi và núi. Hiu quạnh. Những ngày kỉ niệm có lẽ là những ngày được mong ngóng nhất trong năm. Mong ngóng được về bên đồng đội, ôn lại những kỉ niệm xưa, nhìn những bệ tên lửa nằm lạnh ngắt trước sân bảo tàng, hồi tưởng về những tháng ngày hào hùng, trong khói và lửa.

Bước ra ngoài hiên hội trường, mưa đã bắt đầu nặng hạt. Len lỏi vào một nhóm các bác đang đứng trò chuyện, một góc cạnh mới của đời lính tên lửa lại mở ra trước mắt tôi. “Thằng Bình Lợn ngày xưa ăn hết cơm bọn tao.” Câu nói của một bác đứng đối diện tôi, đầu xoăn tít mấy sợi tóc bạc, làm cả nhóm cười ồ lên. Hỏi thêm mới biết hồi đấy cả đội Bác đều phải trực bên bệ phóng, cơm nước thì cứ 3, 4 tiếng một lần, anh Nuôi lại quang ghánh, men theo chiến hào phân phát cho anh em. Tiếng gầm gừ ầm ì của những chiếc B52 ngang qua nền trời, tiếng gào théo của những chiếc F4 vọt qua không làm bữa cơm chớp nhoáng dưới chiến hào kém vui. Giọng bác như rộn lên, hào hứng kể lại những lúc 4, 5 anh em ngồi chồm chỗm bên thúng cơm của anh nuôi, miệng nhồm nhoàn vì đói.

“Khoảnh khắc nhớ nhất trong đời lính là khi nhìn con quái vật B52, như một cái bóng,  đen trũi lầm lì trên nền trời đêm, cháy gẫy đôi vì quả tên lửa, nặng nề lao xuống Thành phố”, bác Lương hồ hời kể lại khi tôi hỏi về kỉ niệm đáng nhớ nhất của Bác trong 12 ngày đêm. Lúc đó cả kíp trưởng, lính cánh tà đều lao ra khỏi trạm điều khiển, ôm chầm lấy nhau, nhảy cẫng lên reo hò “Chêt mẹ thằng B52 rồi, chết mẹ thằng Mĩ”. Chen lẫn trong tiếng nồ rầm trời, tiếng pháo cao xạ roèn roẹt là tiếng gào thét của anh em “Tên lửa tao trúng rồi! Tên lửa tao trúng rồi!”

Bác cũng kể trước chiến dịch, cả đội chỉ được bắn lẻ tẻ vài quả tên lửa. Đây là lần đầu tiên được bắn đã đời thế này. Giọng Bác hừng hực, mắt sáng rực khi nói về khoảnh khắc nhìn quả tên lửa phóng vụt lên trời đêm tối xầm “Sướng lắm cháu cả, nhất là khi nhìn đuôi tên lửa đỏ rực xé toạc màn đêm bay lên bâu trời.” “Bắn tên lửa mà cứ vui như đi chảy hội.” Bác nói.

Tò mò không thể hiểu nổi tại sao trong những giờ phút đất trời đỏ rực màu lửa, các Bác vẫn giữ được một tinh thần thép như thế, tôi hỏi một bác đứng kế bên “Có những lúc nào Bác cảm thấy mệt mỏi, sợ hãi và không tin vào chiến thắng?” Câu hỏi dường như làm Bác ngạc nhiên đôi chút. Ngạc nhiên vì được hỏi về một cảm giác mà mình chưa từng trải qua?  Bác mỉm cười kể “Cả tiểu đội Bác lúc nào cũng như cuồng lên trong tiếng pháo. Ruột lúc nào cũng cồn cào, một lòng vì Hà Nội.” Bác nói ngay cả những lúc trời yên biển lặng, anh em chập chờn trong giấc ngủ, vẫn luôn sẵn sàng chồm dậy khi nghe thấy khẩu lệnh của chỉ huy.

Tôi rời Bảo tàng. Mưa vẫn rì rào từng hạt nhỏ, bớt lạnh hơn. Trời đã xế trưa, phía xa đang ló lên những tia nắng báo hiệu một buổi chiều nắng ấm. Trong lòng đang có gì đó ấm áp lan tỏa.

Chiến tranh, mới buổi sáng lạnh buốt nay thôi, trong tôi: buồn, đau, và ám ảnh. Án ảnh bởi những câu truyện trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh. Những bánh xe tăng dắt đầy da người trộn lẫn với tóc, thối lặm. Những người lính tăng sau cuộc chiến, trở thành lái xe tải trên những con đường gập ghềnh, nôn ọe khi nhớ về khoảnh khắc ngồi trong xe tăng, lộp bộp lăn qua những xác người. Giấc mộng về những người đồng đội cũ, về những cái xác chương phềnh nổi trên dòng sông đỏ ngầu màu của máu, quấy quả giấc ngủ của người lính “không may mắn” trở về sau cuộc chiến. Và người lính đó, đêm nào cũng chồm dậy, mồ hôi thấm lạnh lưng áo, gió buốt từng cơn thổi trong căn phòng trống toang hoác.

Chiến tranh. Một góc nhìn mới. Thời khắc cả dân tộc hòa vào làm một. Những giây phút kiên cường không mệt mỏi sau cuộc hành quân dài. Những anh lính pháo binh vỡ òa trong niềm vui sướng khi những con quái vật trên bầu trời đổ rụp. Những phút tếu táo bên nồi cơm anh Nuôi, dưới chiến hào, trong tiếng nổ rầm trời của bom đạn.

Những con người đã sống những ngày tuyệt vời nhất của cuộc đời. Và có lẽ…sẽ không còn một khoảnh khắc nào đáng sống hơn những ngày đã qua đó.










No comments:

Post a Comment