Xưởng Gốm nhỏ nằm cạnh con đường chính dẫn vào làng gốm Bát
Tràng. Không gian ngột ngạt trong bụi đất sét. Những người công nhân mặc áo bảo
hộ xanh, đeo khẩu trang kín mít, lặp đi lặp lại những thao tác đã nhuần nhuyễn
trong một dây chuyền hoàn chỉnh. Cạnh những bức tường, hàng dài các tấp liếp đựng
những bộ ấm chén đều tăm tắp, giống nhau đến từng vết sước trên quai chén. Một
xưởng sản xuất nhỏ - Một góc cạnh nhỏ của việc sản xuất đồ Gốm trong một ngôi
làng được mệnh danh là tinh hoa đồ Gốm Việt Nam.
Dọc con đường chính dẫn vào làng. Hai bên đường san sát những
của hiệu bán buôn, trưng bày gốm sứ. Mỗi
chỗ một đặc sản. Có nơi chuyên về đồ trang trí tí hon như trâu nước, cô thôn nữ. Nơi lại trưng bày các loại bát đĩa, chậu hoa,
bình lọ. Đồ thờ cúng như chân đèn, lư hương thì ít hơn cả, chỉ lác đác vài cửa
hiệu.
Tò mò hỏi chuyện về những nghệ nhân nổi tiếng trong Làng, có
người chỉ tôi đến hiệu gốm sứ của anh Nguyễn Tuấn, người đã kì công dành 2 năm
trời để nặn hai chiếc bình sứ “khổng lồ” nhận dịp đại lễ Thăng Long. Cửa hiệu
không lớn, không trưng bày nhiều, nhưng chất. Cặp bình sứ không lồ mà tôi vừa
nghe nói nằm hiên ngang cạnh hai bức tường đối diện. Nước men rạn, màu xám úa
xưa cũ, vỡ thành từng mảnh li ti phủ lên thân mình tròn bầu của chiếc bình mang
đến cho nó một vẻ cổ kính, trầm mặc. Chị Hương, vợ anh Tuấn, kể anh đã mất đến
2 tháng trời để tạo hình cho chiếc bình. Khó khăn không chỉ dừng ở việc chọn đất
có khả năng chịu lực. Bình lớn nên không thể làm ngày một ngày hai, thế nên phải
giữ các lớp đất tiếp nối ẩm để chiếc bình có độ gắn kết lớn. Người nghệ nhân phải
có kinh nghiệm lâu năm và bền bỉ để có theo tác phẩm đến cùng.
Chị tâm sự giờ trong làng ít người còn làm những sản phẩm
đòi hỏi sự công phu và khéo léo như thế nữa. Có chăng chỉ là trong những dịp lễ
lớn, hay khi có người đặt hàng. Trong thời kì thắt lưng buộc bụng, những món đồ
kĩ nghệ tinh xảo lại càng kén người mua hơn nữa. Xưởng của chị vẫn duy trì được
đến giờ là cố gắng hết mình của gia đình để giữ nghề truyền thống. Nhiều hộ
trong làng giờ đang tập trung sang sản xuất hàng loạt các loại ấm chén, bát
đĩa, hay bình lọ với giá cả thấp, chất lượng vừa phải và hợp với túi tiền của
người tiêu dùng.
Theo lời kể của chị, tôi đi sâu vào trong làng, đến thăm một
xưởng sản xuât ấm chén. Đúng là mọi thứ nơi đây đã được công nghiệp hóa đến mức
hoàn hảo. Nhân lực chính là hai chiếc máy tạo hình ấm chén. Hai chị công nhân đứng
hai bên. Một người sắt từng miếng đất sét, nén vào khuôn thạch cao để cho vào
máy. Người còn lại dỡ khuôn và chuẩn bị
cho công đoạn tiếp theo – gọt tiện. Đây có lẽ là công đoạn đòi hỏi sức người
nhiều nhất. Một anh râu rậm, tóc dài, dáng dấp nghệ sĩ đang ngồi bên bàn xoay,
gọt bỏ những mép thừa của sản phẩm. “Một
ngày xưởng mình có thể sản xuất đến hàng trăm nghìn chiếc ấm” anh nói.
Bước sang một xưởng khác. Sản phẩm chính ở đây là lọ họa và
chậu cây cảnh. Có lẽ do đặc thù của sản phẩm nên quy trình ở đây có vẻ thủ công
hơn nhiều. Nhưng hơi hướng của sản xuất hàng loạt vẫn tràn ngập nơi đây. “Giờ
ít người chịu khó ngôi cạnh bàn xoay và tạo hình lắm anh ạ”, cô bé lớp 12, nước
da bánh mật tinh nghịch, đôi mắt hấp háy nói với tôi. Em kể nhà em giờ đều dùng
khuôn thạch cao hết cho nhanh, một ngày có thể làm đến hàng trăm chiếc lọ . Chỉ
cần chuẩn bị đất sét lỏng sệt, rót vào một hàng dài khuôn thạch cao đã được xếp
sẵn. Sau đó chỉ việc ngồi chờ thạch cao hút nước và đất sét thành hình. Công đoạn
cuối là gọt tỉa cho sản phẩm tinh tế hơn chút và cho vào lò đốt dầu, 3 tiếng
sau là đã có một mẻ lọ hoa đều tăm tắp.
Một dòng sản phẩm phổ biến khác của Bát Trang là bát đũa. “Hầu
như nhà nào ở đây cũng làm bát đũa”, Anh Lê Công Thinh, chủ một xưởng sản xuất
bát đũa nói. Tôi gặp anh vì tò mò bởi một Bảng tuyển dụng nhân viên treo trước xưởng
của anh: “Tuyển nhân viên dán đề càn.” Trong vai một sinh viên đang cần tìm việc
làm thêm, tôi hỏi anh sâu hơn về công việc này. Anh kể giờ việc ngồi vẽ trang
trí thủ công cho hàng loạt cho những chiếc bát rất tốn thời gian và công sức.
Không những thế, việc này còn đòi hỏi các thợ vẽ lành nghề, nhưng người mà ngày
càng hiếm đi trong làng. Đề Can chính là giải pháp cho bài toán hóc búa này. Những
miếng đề can đươc tạo hình sẵn, nhập từ Trung Quốc. Người thợ chỉ cần ngồi bóc
đề càn, và dán lên những chiếc bát, thế là đã có một bức vẽ hoàn chỉnh. Giống
nhau đến từng nét sổ nhỏ.
Đã tham quan Bát đũa, Lọ hoa, Ấm chén, còn thiếu mỗi Lư hương, một dòng sản
phẩm truyền thống khác của Bát Tràng, tôi tò mò bước vào một xưởng sản xuất Lư
hương. Khung cảnh quen thuộc trải dải tăm tắp trước mắt. Những dãy dài khuôn thạch
cao, và mẻ lư hương thẳng tắp, vừa dỡ từ khuôn ra, đang chờ tỉa tót, chuẩn bị lên giàn hỏa thiêu.
Cô gái nhỏ, đồng phục cấp 3 trắng muốt, mái tóc đỏ hoe, lọn tóc xoăn rủ bồng
trên đôi vai nhỏ. Trông em như lạc lõng trong không gian của những bác thợ cục
mịch, lấm lem màu xám ngắt của đất. “Bố em bắt làm”, như tìm được một người cảm
thông cho tình cảnh của mình, cô bé hậm hực nói với tôi. Em kể sau này muốn bay
đi thật xa, không thích ngày ngày gò gõ hàng giơ liền thế này. “Nhàm chán lắm
anh ạ” em nói. Em kể ở lớp chẳng đứa nào thích vẽ vời, hay ngồi nặn gốm cả. Đứa
thì la cà quán điện tử, đứa dùi mài kinh sử chờ ngày thoát ly.
Trở về. Mặt trời lẩn khuất đâu đây sau những đám mây xám
ngát, xám như màu của đất. Con đê dài uốn quanh ngôi làng đưa tôi dần xa nó. Thời
đại mà mỗi quốc gia như một con sông, đang đổ dần về biến lớn. Mỗi con sông một
màu sắc, một dòng nước, một nhiệt độ. Amazone xanh ngắt màu của những khu rừng
rậm. Sông Hồng đổ nặng phù sa. Một sự hòa nhập sẽ xảy ra. Giá trị nào sẽ được
lưu lại? Giá trị nào sẽ thích nghi với điều kiên mới? Gốm Bát Tràng sẽ chọn cho
mình những giá trị gì để bảo tồn?
No comments:
Post a Comment